Newsletter
09181
Cập nhật ngày 15/07/2009 02:58:22

Làm việc với Terminal Services Remote (phần 2)

Giới thiệu


Trong phần đầu của loạt bài này, tôi đã nói về một số ích lợi khi dùng Terminal Services RemoteApp.


Trong bài này, tôi muốn tiếp tục bài thảo luận của mình bằng cách hướng dẫn các bạn qua quá trình triển khai như sau:


Làm việc với Terminal Services Remote (phần 1)


Làm việc với Terminal Services Remote (phần 3)


Làm việc với Terminal Services Remote (phần 4)


Làm việc với Terminal Services Remote (phần 5)


Trước khi bắt đầu, tôi cần phải chỉ cho các bạn thấy tính năng Terminal Services RemoteApp này khác với session Terminal Service bình thường. Vì những khác biệt cố hữu, không phải tất cả các khách hàng Windows đều có thể làm việc với các ứng dụng thuê từ xa. Terminal Services RemoteApp chỉ có thể làm việc với những máy khách đang chạy Windows Vista, Windows Server 2008, Windows XP với SP2 hay cài đặt cao hơn, và Windows Server 2003 với SP1 hay cao hơn và cài đặt chương trình Remote Desktop Client mới.


Cài đặt Terminal Services


Hãy cùng bắt đầu bằng qui trình cài đặt. Vì mục đích của loạt bài này, tôi đảm bảo các bạn có thể cài đặt WS 2008 và bạn có thể nối server này với domain thích hợp.


Bắt đầu cài đặt bằng cách mở Server Manager, và chọn Roles. Sau đó, chọn đường dẫn Add Roles, nằm trong cửa sổ Actions. Windows sẽ làm xuất hiện giao diện Add Roles.

Sau đó chọn Next để sang giao diện màn hình chào mừng, bạn sẽ thấy xuất hiện một danh sách các role khác nhau có trên server. Chọn role Terminal Services, click Next. Windows sẽ hiện ra một màn hình server giới thiệu về Terminal Services. Cứ tiếp tục và click Next, và bạn được dẫn đến một màn hình để chọn role mà bạn muốn cài đặt. Bây giờ, tiếp tục chọn role Terminal Services và role TS Licensing.


Ngoài ra, tôi cũng nói luôn rằng các bạn không cần phải có một dịch vụ cuối Windows 2008 ở đây. Chúng ta chọn role TS Licensing, bởi vì Microsoft yêu cầu tất các các server cuối phải được kết nối với một server đã được cấp phép, mặc dù trước khi cấp phép cho server của mình bạn cũng đã có một khoảng thời gian được miễn.


Tiếp tục Next và bạn sẽ thấy một thông báo cảnh báo rằng ứng dụng nào được cài đặt trước dịch vụ cuối có thể không làm việc được với Terminal Services. Hãy cứ tiếp tục và click Next để bỏ qua cảnh báo này.


Windows lúc này sẽ hiển thị một màn hình hỏi bạn có muốn thực hiện chứng nhận mức mạng không. Network level authentication là một cơ chế cho phép Windows thực hiện việc chứng nhận người dùng trước khi một session Terminal Service được thiết lập. Network level authentication nhìn chung là tốt, bởi vì nó đơn giản hoá các quá trình chứng nhận và bảo tồn các tài nguyên server. Thế nhưng, chỉ có các máy chạy Windows Vista và Windows Server 2008 mới hỗ trợ chứng nhận mức mạng. Do đó, bạn nên xem xét kĩ trước khi kích hoạt chức năng này. Và vì mục đích của bài viết này, tôi sẽ enable chức năng chứng nhận mức mạng.


Màn hình tiếp theo sẽ hỏi bạn liệu có muốn dùng giấy phép trên người dùng hay trên thiết bị. Bạn có thể chọn bất kì cái nào, nhưng mục bạn chọn phải phù hợp với dạng giấy phép Terminal Server mà bạn đã mua.


Click Next, và Windows sẽ hỏi bạn người dùng và nhóm nào được cho phép kết nối với server cuối. Bây giờ, chỉ cần click Next để chấp nhận như mặc định.


Bạn sẽ thấy một màn hình yêu cầu bạn quyết định về phạm vi khám phá. Điều đó có nghĩa là bạn phải quyết định xem server cấp phép của bạn chỉ là server dịch vụ cuối tức là thành viên của cùng một domain như server đã cấp phép, hay nếu bạn muốn server được cấp phép phục vụ cả hệ thống. Một lần nữa, các bạn sẽ phải chọn mục nào phù hợp nhất với tổ chức của riêng bạn, sau đó chọn Next.


Sau đó, sẽ xuất hiện một màn hình thể hiện tóm tắt các mục cài đặt mà bạn phải chọn. Tôi khuyên các bạn nên dành ra vài phút để đọc qua các tóm tắt cài đặt này để đảm bảo là mình sẽ chọn đúng mục. Sau đó, click vào nút Install. Bây giờ Windows sẽ cài đặt các dịch vụ theo yêu cầu. Khi quá trình cài đặt kết thúc, click nút Close. Bạn sẽ được yêu cầu khởi động lại server. Hãy tiếp tục và click Yes để khởi động lại


RemoteApp


Bây giờ chúng ta đã có một thiết lập Terminal Service cơ bản, tôi muốn cho bạn một cái nhìn tổng quát xem RemoteApp có thể làm những gì. Trong phần tiếp theo của chuỗi bài viết, tôi muốn quay lại và thực hiện một vài điều chỉnh và chỉ cho các bạn một số option khác của các ứng dụng hosting.


Đơn giản là cách được yêu thích, vì thế chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách hosting Windows Calculator. Để làm được điều này, click nút Start và chọn Administrative Tools | Terminal Services | TS RemoteApp Manager options từ menu Start.


Khi RemoteApp Manager bắt đầu, chọn đường dẫn Add RemoteApp Programs từ menu Actions. Khi bạn làm xong, Windows sẽ làm xuất hiện RemoteApp Wizard. Click Next để bỏ qua màn hình chào mừng, và bạn sẽ được đưa đến một danh sách các ứng dụng được cài đặt trên server cuối của bạn. Chọn hộp nào tương ứng với Calculator và click Next, sau đó là Finish. Bạn sẽ thấy Windows Calculator được thêm vào danh sách RemoteApp Programs, như hình A


terminal-app-p2-1


Hình A: The Windows Calculator đã được thêm vào RemoteApp Programs


Khi bạn chọn danh sách cho phần Calculator, một số các mục thêm vào sẽ xuất hiện trên bảng Actions. Click mục Create .RDP File. Nó sẽ làm xuất hiện RemoteApp Wizard.


Một lần nữa, chọn Next bỏ qua màn hình chào mừng. Bạn sẽ thấy một màn hình yêu cầu bạn điền vào một nhóm các mục khác nhau liên quan đến ứng dụng từ xa. Mục đích của chúng ta bây giờ đơn giản là thử ứng dụng từ xa, do đó hãy thay đổi Location để Save the Package field để chỉ đến một chia sẻ mạng có thể được truy cập từ một máy khách. Đừng lo lắng về những thiết lập khác vì tôi sẽ chỉ chúng cho bạn sau bài này.


Click Next, sau đó Finish và Windows sẽ tạo ra một file RDP chuẩn và đặt nó vào một vị trí mà bạn đã xác định. Một file RDP
là một file Remote Desktop. File RDP được dùng bình thường để thiết lập session Terminal Service với các máy từ xa, nhưng trong trường hợp này, file RDP là một ứng dụng riêng biệt. Nếu bạn mở file RDP từ một máy khách, khách sẽ mở ra Calculator (hãy nhớ rằng lúc này chỉ có quản trị mới là người dùng duy nhất được truy cập vào Calculator). Nếu bạn nhìn thấy hình B, bạn có thể thấy Calculator xuất hiện là đang chạy cục bộ. Dấu hiệu duy nhất đây là ứng dụng thuê là từ Remote ở thanh công cụ cuối màn hình.


terminal-app-p2-2


Hình B: Giống như RemoteApp đang chạy


Kết luận


Trong bài này, tôi đã chỉ cho các bạn cơ bản về hosting cho các ứng dụng. Trong phần tiếp theo, tôi sẽ nói về bước kế tiếp và chỉ cho các bạn kinh nghiệm để tinh chỉnh các ứng dụng được hosting.

Nguyễn Như Cát Tưởng